Dù nhà thơ Kiên Giang đã về cõi vĩnh hằng, nhưng những bài thơ đậm chất hương đồng cỏ nội, mộc mạc như… ca dao, mang hơi thở miền quê Nam bộ của ông vẫn sống mãi với thời gian. Đôi dòng về ông để tưởng nhớ một nhà thơ lớn, một soạn giả và là một nhà báo nổi tiếng… Xin được thắp lên đây một nén hương lòng…
“Chậu nhỏ đựng đầy hồn cố thổ”
“Năm mươi năm, bỏ làng xa xứ / Đầu bạc mới tìm về cố hương/Quên mất Vàm ngoài sông Cái nước/ Không nghe gà gáy giữa canh sương… /Khỉ hết chuyền cành bần hái trái/Bông không còn rụng thả trôi sông/Ngày thơ xé mắm ăn bần chín/Bóng mát lung linh chở khẳm xuồng…”. Chỉ lướt qua vài câu thơ đầu của tập thơ “Chậu nhỏ đựng đầy hồn cố thổ”, nếu ai đã xa lâu miền quê sông nước ắt phải bồi hồi, thao thức…
Nhà thơ Kiên Giang có 41 tác phẩm thơ, song đa số vẫn mang âm hưởng những vần điệu Nam bộ, dù rằng đó là “Tiếng ru Ba Miền” …Tiếng mẹ ngân nga triều nước lớn/Điệu vành khuyên, ấm tiếng chim oanh/Mây không đuổi cánh cò bay mỏi gió/… Vạt áo tứ thân, manh áo vá quàng/Đều in ngầm bản đồ cong chữ S/… Tiếng mẹ ru sình non thành đất thép/Trường Sơn gầy giương đòn gánh dẻo dai…/… Sông Hương nhớ mạch sông Hồng/Máu ngàn xưa chảy quặn lòng đế đô… Cả một đời hoạt động sáng tác với hàng trăm tác phẩm đủ các thể loại, nhà thơ, nhà báo, soạn giả Kiên Giang – Hà Huy Hà được xem như một trong những cây đại thụ trong lĩnh vực thơ ca Nam bộ. Những tác phẩm của ông góp phần làm phong phú thêm nền văn học nghệ thuật của đất nước.

Những bài thơ mang đậm dấu ấn chân quê của ông bắt nguồn từ thuở ông mới chập chững trên con đường thơ từ năm 17 tuổi. Đó là ngày ông tìm gặp nhà thơ chân quê Nguyễn Bính để xin kết nghĩa tình thơ. Năm 1946, nhà thơ Nguyễn Bính lưu lạc về Rạch Giá; hay tin, Kiên Giang tìm đến ra mắt nhà thơ mà ông hằng ái mộ và được nhà thơ lớn xứ đàng ngoài viết tặng cho mấy câu thơ trên bao thuốc lá “Có những dòng sông chảy rất mau/Nhớ chi nghĩa bến với sông cầu/Lá vàng hoa đỏ trôi không kịp/Lưu lạc ai ngờ lại gặp nhau”. Có lẽ bắt đầu từ dạo ấy, ảnh hưởng từ phong cách thơ của “thầy” Nguyễn Bính đã theo ông suốt hành trình sáng tác về sau này, cụ thể nhất là bài thơ Tiền Và Lá: “Ngày thơ, hớt tóc “miểng rùa/ Ngây thơ, mẹ bắt đeo bùa cầu ông/ Đôi ta cùng học vở lòng/ Dắt tay qua những cánh đồng lúa xanh/ đôi nhà cùng một sắc tranh/ Chia nhau từ một trái chanh, trái đào …/ Anh moi đất nắn “tượng người”/ Em thơ thẩn nhặt lá rơi làm tiền/ Mỗi ngày chợ họp mười phiên/ Anh đem “người đất” đổi tiền “lá rơi”/ Nào ngờ mai mỉa cho tôi/ Lớn lên em đã bị người ta mua…/ … Tiền không là lá em ơi!/ Tiền là giấy bạc của đời in ra/ Người ta giấy bạc đầy nhà/ Cho nên mới được gọi là chồng em…”. Âm hưởng quả không khác gì bài thơ Chân Quê của “sư phụ” Nguyễn Bính!
Cố thổ cội nguồn
Từng là một nhà thơ lớn, là nhà báo và là soạn giả của hàng trăm bài bản vọng cổ, kịch bản cải lương để đời như: Áo cưới trước cổng chùa, Người đẹp bán tơ, đặc biệt với vở: Người vợ không bao giờ cưới… có những ca từ làm xao xuyến lòng người “Ngày mai đám cưới người ta/ Tại sao sơn nữ Phà Ca lại buồn…”. Nhưng những người ái mộ như tôi vẫn thích gọi ông là nhà thơ. Tôi mê thơ ông chí ít cũng hơn 40 năm, bắt đầu từ bài Hoa trắng thôi cài lên áo tím nổi tiếng (bài thơ làm rạng danh ông cách đây hơn nửa thế kỷ, được nhạc sĩ Huỳnh Anh phổ nhạc, rồi tiếp đó là nhạc sĩ Anh Bằng với hai bài Hồi chuông xóm đạo và Chuyện tình hoa trắng).Đến những trang thơ trên Thi văn đàn “Nước mắt quê hương” do ông phụ trách trên các tờ báo ở Sài Gòn vào thập niên 70 của thế kỷ trước.
Ở miền Nam thời đó cũng có một số nhà thơ có danh như Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng… nhưng ông hơn họ ở chỗ quy tụ được trên văn đàn những dòng thơ tiến bộ, hướng nó chảy về với cội nguồn dân tộc. Những trang thơ không chỉ ngân vang ngôn từ đậm chất mộc mạc, chân quê của vùng châu thổ quê ông, mà còn khơi dậy những cảm xúc sâu nặng tình yêu quê hương đất nước. Thuở ấy tôi cũng mới tập tành làm thơ, do mê thơ ông nên đã nhờ nhà thơ Sa Mạc Linh (Trần Đình Bán) giới thiệu tôi vào thi đàn “Nước mắt quê hương” của ông. Chẳng những không nệ hà, ông còn tận tình chỉ dẫn, sửa vần, sửa vận cho từng bài thơ non nớt và cho đăng báo. Sa Mạc Linh, Yên Bồng, Yên Hải và nhạn trắng Gò Công (ca sĩ Phương Dung)… là những bút hiệu, nghệ danh mà ông đặt cho đám em cháu của ông thời đó.
Trong lao động sáng tác, nhà thơ Kiên Giang như cánh chim bằng bay hoài không mỏi. Trong một chuyến đi thực tế sáng tác với đoàn văn nghệ sĩ TPHCM vào lúc tuổi ông đã bóng cả xế chiều. Đấy là một vùng đất anh hùng trong hai cuộc kháng chiến thuộc tỉnh Vĩnh Long. Khi được mời ông bèn rủ người bạn cố tri – nhà văn Sơn Nam cùng đi nhưng ông già Nam bộ sức khỏe không tốt nên không đi được. Riêng ông vẫn hăng hái tham gia mặc dù ông đã quá cái tuổi … xưa nay hiếm (trên 75 tuổi), và tôi may mắn có dịp tháp tùng cùng ông. Suốt những ngày ngồi trên chiếc vỏ lải chòng chành, lênh đênh qua những nhánh Cửu Long giang, xuôi theo dòng Cổ Chiên, Măng Thít… mênh mông sóng nước. Rồi lội bờ tham quan những vùng căn cứ địa cũ của cách mạng, vượt qua các cây cầu khỉ gập ghềnh lắc lư ở những vùng quê heo hút, đâu đâu ông cũng … có mặt trên từng cây số, ấy mà chẳng ai thấy ông có chút biểu hiện gì mỏi mệt.. Tối đến, trong khi cánh trẻ chúng tôi oải mình oải mẩy ngủ khì thì nhà thơ quá ngưỡng cổ lai hy vẫn ung dung ngồi viết. Những gì thu thập được trong ngày, đều là đề tài để ông miệt mài say sưa dệt nên những vần thơ bình dị, mượt mà nhưng đầy chất bi, hùng, ái, hỷ… Ban ngày nghe câu chuyện về sự hy sinh kiên cường của người anh hùng đất Tam Bình (Vĩnh Long) – liệt sĩ Trịnh Minh Thế (Sáu Quang) bị bọn giặc hành quyết dã man bằng cách tròng dây vào cổ rồi thả xuống sông, kéo lê sau đuôi tàu dọc theo dòng sông Cái Tàu Hạ (một nhánh sông thuộc đồng bằng sông Cửu Long). Thương cảm trào dâng, đêm về ông viết: “… Pháp trường nổi mở ngay trên tàu giặc/ Một sợi dây thắt gút một đường vòng…/… Cái tàu Hạ – cánh buồm no gió/ Đâu biết theo con nước lớn ròng/ Có bóng vòng dây tàu chiến giặc/ Kéo lê xác lạnh dọc dòng sông/ Ai có biết cũng trên dòng nước cũ/ Một đời trai nợ nước đã đền xong…”
Cuộc đời bảy nổi ba chìm
Ông già Nam Bộ (nhà văn Sơn Nam) – người bạn cố thổ đồng hương với nhà thơ Kiên Giang từng nói ông có cuộc đời 3 chìm 7 nổi tới… 9 cái linh đinh!. Nhưng có lẽ kiếp sống phiêu bồng của một tâm hồn thơ khiến ông không thể ở yên một chỗ. Ông nói bạn hữu, người mến mộ ông ở khắp nơi, nên ông phải đi đây đó mới hội ngộ được. Một thuở niên thiếu hàn vi sống ở nơi khỉ ho cò gáy, nhưng ý chí và tài năng bẩm sinh, đã đưa ông vượt qua cảnh cơ hàn để sớm bước vào con đường chữ nghĩa văn chương từ rất sớm. Chưa đầy 20 tuổi ông đã từng viết báo, làm phóng viên, biên tập viên cho báo cách mạng ở chiến khu. Vào những năm 50 – 60 của thế kỷ trước, nhà thơ Kiên Giang về Sài Gòn sống bằng nghề viết với bút hiệu Hà Huy Hà. Tính đến ngày ông nhắm mắt lìa trần thì ông đã có gần 70 năm cầm bút. Năm 2005, tôi có dịp ngồi cùng ông bên hiên ngôi chùa cổ (Phước Hậu cổ tự, xây dựng năm 1850) thuộc ấp Đông Hậu, xã Ngãi Tứ, huyện Tam Bình – Vĩnh Long. Gió từ dòng sông Hậu lồng lộng đưa sóng vỗ bờ, thổi tung mái tóc trắng phau của ông. Đưa tay vuốt mái tóc đã bạc màu sương gió, ông lục trong giỏ xách đeo bên mình lấy cây viết và tờ giấy học trò, ghi tặng tôi mấy câu thơ mới vừa hình thành trong tâm trí như thay lời nhắn nhủ: Tóc bạc đi qua cầu lộng gió/ Là người sống chết ở nơi đây/ Tóc bay ngùi nhớ thời xuân cũ…/ …Lớp trẻ qua cầu, nhìn ngẩng cao/ Thấy chăng xương máu chói cờ sao/ Nhìn sông có thấy trong dòng chảy/ Có bóng tiền nhân trộn máu đào… Nhìn từng vạt lục bình nhấp nhô, lửng lờ, lênh đênh trôi theo con nước về bên kia sông phía huyện Trà Ôn (Vĩnh Long), thoáng nét trầm tư, ông lại ứng khẩu như lời tự bạch: Trâu già vượt tám dốc lầy / Xa đồng ngùi nhớ luống cày hoàng hôn / Chìm sâu cố thổ cội nguồn / Đào mồ trầm tích với hồn rất đau. Nay ngồi tưởng nhớ đến ông ngẫm thấy đúng vậy. Bước đường trần gian của ông trải qua bao thăng trầm chìm nổi. Khi ông về Long Xuyên an dưỡng tuổi già tôi vẫn thoáng nghe câu Mười năm chẳn, chín lần dời đổi / Lần này biết có ở luôn đây… Và ông thật sự ở yên rồi… Nhớ tới ông, xin được thắp nén hương lòng, cầu mong nhà thơ vĩnh hằng nơi cõi thơ ca.
Nhớ buổi tiễn đưa ông về nơi “cố thổ” (câu từ ông hay dùng trong một số bài thơ), tuy không phải miệt Nam bộ quê nhà, mà tại nơi ông tâm nguyện từ lúc còn sống.
Khi ông đưa nhà văn Sơn Nam về nơi yên nghỉ, là muốn nằm cạnh người bạn tâm giao từ thời niên thiếu. Và ông đã được toại nguyện. Công ty Cổ phần Đầu tư xây dựng Chánh Phú Hòa – Hoa viên nghĩa trang Bình Dương đã tặng nhà thơ Nam bộ “ngôi nhà” trong khuôn viên đất 64m2 bên cạnh ngôi mộ ông già Nam Bộ – Sơn Nam theo ý nguyện của nhà thơ, thể hiện qua bốn câu thơ mà ông cảm tác vào tháng 8-2013: “Trận đời trăm nẻo xông pha/ Thác nằm đất nghĩa vẫn là cố hương/ Xa Rạch Giá về Bình Dương/ Đất lành nào cũng vấn vương nghĩa tình”ª T.H






