1/ Huyền tích nhà vua Lý công Uẩn:
Theo thần tích “Ngọc phả cổ lục” ở các ngôi miếu cổ thờ “CẨU MẪU”, “CẨU NHI” (vùng đất Thăng Long thời nhà Lý & nhà Trần, thế kỷ 11- 14), vị vua đặt lại tên nước là ĐẠI VIỆT (thay cho quốc hiệu Đại Cồ Việt của triều đại Đinh – Tiền Lê trước đó) đã chọn La Thành làm kinh đô Thăng Long (Hà Nội), có sự tích như sau:
* Người tín nữ sùng bái Phật đạo là Phạm Thị Ngà (có sách ghi Phạm Thị Trinh), quê ở làng Cổ Pháp, huyện Từ Sơn – Bắc Ninh, một đêm nằm mộng thấy thần “linh khuyển” (tức địa chi TUẤT tinh quân, 1 vị thần trong 12 vị tinh quân quản lý 12 vị trí không gian trời & đất: tý, sửu, dần, mão…) về xin phép bà cho ông đầu thai, để hạ giới giúp đời… Quả nhiên thời gian sau đó, bà hạ sinh được một bé trai kháu khỉnh vào năm Giáp TUẤT (năm 974) đúng tướng tinh linh khuyển (địa chi Tuất!), bà gửi con vào chùa Tiêu Sơn (vùng đất Bắc Ninh hồi đó) nhờ 2 thiền sư là Lý Khánh Vân và Lý Vạn Hạnh dạy dỗ, nên cậu bé “thần nhân giáng hạ” này có tên họ của ân sư: LÝ CÔNG UẨN! Khi lên ngôi vua nước Đại Việt, vua Lý Công Uẩn chọn năm TUẤT để dời đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) ra La Thành (Thăng Long, Hà Nội) là năm Canh Tuất (1010), sau này: ngày vua về Trời (tạ thế) lại vẫn chọn ngày TUẤT (vua qua đời ngày Mậu TUẤT tháng 3 âl năm Mậu Thìn – 1028). Do công lao phát triển đất nước và chấn hưng đạo Phật từ bi, nên nhân dân nhớ ơn nhà vua mà lập nhiều đền – miếu thờ: miếu CẨU MẪU thờ bà mẹ vua, miếu CẨU NHI (1) thờ nhà vua,,,.. ở nhiều nơi trên đồng bằng Bắc bộ!
2/ Linh vật tượng CHÓ đời nhà Trần:
Sử quan đời Hậu Lê là Ngô Sĩ Liên đã ghi chép trong bộ Đại Việt sử ký toàn thư về sự việc đã trở thành tâm linh phong tục: nông dân khi lập các vuờn trồng muỗm (cây xoài) ven đê sông Hồng, đều dựng miếu thờ Linh Khuyển địa chi TUẤT, gọi là “CHÓ THẦN”, để mong cầu thời tiết mưa thuận gió hoà, cây cối tốt tươi…
Tâm linh trên có nguyên nhân sâu xa hơn, như sau: đầu đời nhà Trần (thế kỷ 13) nước ta bị đế quốc phong kiến Nguyên Mông phương bắc 3 lần tiến công xâm lược, đa phần họ đều sử dụng thủy binh hùng mạnh khởi quân từ hướng CẤN (phía đông bắc, tức cửa biển vùng Quảng Ninh) để tiến đánh Thăng Long ở hướng KHÔN (phía tây nam của tỉnh Quảng Ninh)… Sức mạnh kháng chiến của quân dân nước ĐẠI VIỆT cũng “thần kỳ” hiếm có: một mặt các vua nhà Trần sát cánh cùng toàn thể thần dân chặn đánh “cường địch = giặc mạnh”, một mặt khác là “sức mạnh tâm linh” rất đậm đà tú khí dân tộc = thần tượng linh khuyển tinh quân (tức Chó Thần, linh vật dân gian đã thành phổ biến suốt 215 năm thời nhà LÝ, 1010-1225, trước đó) được quân dân Đại Việt sử dụng như công cụ “sức mạnh phong thủy” (sức mạnh tinh thần) trấn & ếm (2) ở các cửa ngõ mà giặc mạnh thường tiến vào (nhiều tượng đá hoặc đất nung linh vật Chó Thần đã có mặt ở đồng bằng sông Hồng hơn nghìn năm nay là vì vậy), nhất là trục Cấn-Khôn (đông bắc- tây nam) nước ta thời đó!
Thầy thuốc đông y Lê Lã Sảng (người am tường Dịch Lý Học & địa lý phong thủy) rất tâm đắc “huyền tích Chó Thần Việt Nam”, đã truyền thừa cho con cháu dòng họ LÊ LÃ / Hưng Yên tinh thần “hồn VIỆT” ẩn tàng trong 2 câu thơ 7 chữ:
* Linh khuyển âm dương khai cấn mộc
* Kinh luân nhật nguyệt định kim khôn…..(3)
(ĐẨU SƠN, 1905-1963)
(Ý nghĩa: cặp đôi linh vật Chó Thần luôn hướng về phía đông bắcquẻ Cấn, thuộc trực Khai, hành mộc để bảo vệ quê hương…../ ngày tháng luôn được chỉ đạo vận hành từ phía tây nam – quẻ Khôn, thuộc trực Định, hành kim), cụ Đẩu Sơn giải thích chi tiết:

Linh Khuyển dân gian
* Hai câu liễn trên là khái quát sự linh nghiệm của linh vật dân gian Việt Nam, theo triết luận Dịch học phương đông châu Á, đạt 3 thành quả TỐT ĐẸP như sau:
a) Về 12 trực khởi, thì có 2 trực tốt đẹp là trực Khai & trực Định
b) Về 5 hành, thì “trấn” từ hành kim, để “ếm” đối tác hành mộc, mà kim thì luôn khắc thắng mộc
c) Về phong thủy dịch học, thì trục Khôn – Cấn thuộc phạm trù thông tin “địa sơn khiêm” mang lý tính SANH KHÍ, rất thuận lợi cho thời bình làm ăn phát đạt…..
3/ Linh vật Việt Nam trong thơ khẩu khí LêThánh Tôn:
Vua Lê Thánh Tôn, vị minh quân thời Hậu Lê, cũng sinh vào năm “tinh quân địa chi Tuất” (sử sách ghi rõ: nhà vua sinh ngày 20 tháng 7 âl năm Nhâm TUẤT – 1442, tại chùa Huy Văn, trong ngõ Văn Chương phố hàng Bột – Hà Nội). Ngoài công lao mở mang bờ cõi ĐẠI VIỆT tới vùng đất Quảng Nam (thành Đồ Bàn cũ), nhân dân còn ghi nhớ những vần thơ chữ Nôm mang tính khẩu khí (đề cao những gương sáng mẫu mực của vật thể tầm thường quen thuộc) của nhà vua thi sỹ Lê Thánh Tôn, nhất là 2 bài thơ vịnh tượng Chó đá (ẩn dụ tướng tinh linh khuyển của mình), người viết xin trích lục lại duới đây:
Bài 1: Vịnh Chó Đá
Quyền trọng ơn trên trấn cõi ngoài
Cửa nghiêm chem chẻm một mình ngồi
Quản bao sương tuyết nào chi kể
Khéo nhử cao lương cũng chẳng nài
Mặc tiếng thị phi giương tráo mắt
Gác lời trần tục biếng vào tai
Một lòng thờ chúa nghìn cân nặng
Bền vững ai lay cũng chẳng dời ….
Bài 2: Vịnh Chó Đá
Lần kể xuân thu biết mấy mươi
Cửa nghiêm thăm thẳm một mình ngồi
Đêm thanh nguyệt dãi màng trông nguyệt
Ngày vắng ruồi bâu biếng ngáp ruồi
Cắn lũ tiểu nhân nào đoái miệng
Chào người quân tử chẳng phe đuôi
Phỏng thân sức có nghìn cân nặng
Tính nhẫn ai lay cũng chẳng dời…
Sử quan đời Nguyễn là ông Phan Huy Chú (1782 – 1840) cũng ghi chép tục lệ tôn kính “thần linh khuyển” trong sách Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí: cửa Nghi Môn ở điện Lam Kinh – Thanh Hóa có 2 tượng Chó Đá rất linh thiêng!
4/ Cặp âm dương linh khuyển ở chùa Cầu – Hội An:
Thời các chúa NGUYỄN ở phía nam nước Đại Việt (thời gian 2 họ Trịnh – Nguyễn phân tranh: 16271776, gọi là Đàng Trong), vùng cửa biển Hội An là thương cảng náo nhiệt, tàu bè nước ngoài được phép vào mua bán với nước ta, giới thương gia Nhật Bản vì góp công sức mua được khí tài quân sự giúp chúa Nguyễn chống lại họ Trịnh ở Đàng Ngoài, nên chúa Nguyễn cho phép xây dựng một kiến trúc tâm linh (theo văn hóa xứ Phù Tang hoa anh đào) là kiểu chùa “thượng gia – hạ kiều” (bên trên là nhà, phía dưới là cầu), dân ta quen gọi là chùa cầu, bắc qua con rạch (con kênh = lạch nước nhỏ hơn sông) liên thông 2 làng Cẩm Phô – Minh Hương thuộc vùng đất Quảng Nam (lãnh vực cửa khẩu Hội An, thời Pháp thuộc gọi là Faifo). Điều đáng chú ý hơn: công trình kiến trúc tâm linh Nhật Bản này cũng có phù điêu đắp nổi “cặp âm dương linh khuyển” ở cửa ra vào một đầu cầu, cũng theo trục Dịch lý Khôn – Cấn, tây nam-đông bắc thuần nghiệm Việt Nam (còn đầu cầu kia thì đắp tượng nổi cặp “hầu thần tinh quân địa chi THÂN”, tức linh vật khỉ, vừa là ý nghĩa lanh lợi khôn ngoan, mà cũng vừa chỉ định vị trí quẻ khôn trong hậu thiên bát quái, giới nho học ngày xưa quan niệm là “đất lành”… có lẽ giới thương nhân Nhật Bản tín nhiệm ý tưởng này mỗi khi đến chùa Cầu khấn vái?)
5/ Linh vật NGHÊ của vương triều nhà NGUYỄN:
Linh khuyển (Chó Thần) trải qua các biến động lịch sử của nước Đại Việt từ triều đại nhà LÝ (thế kỷ 11) đến vương triều nhà NGUYỄN (thế kỷ 18-19), đã trở thành linh vật phong thủy (thậm chí đoi lúc còn là tâm linh tín ngưỡng!) thuần Việt, bởi dân ta đã nghiệm sinh được 2 đức tính của loài động vật CHÓ rất cần trân trọng phát huy, là:
a) Lòng trung thành bền vững,
b) Tận tụy canh giữ – bảo vệ cho chủ nhân… nên được tín nhiệm làm vật thể linh thiêng trang trí cho các công trình kiến trúc nghiêm túc (cung điện, miếu đền, chùa…). Các nghệ nhân điêu khắc tài hoa và giàu trí tuởng tượng của nước ta, ở các triều đại phong kiến vừa nêu trên, đã sáng tạo – cách tân (làm mới hơn) linh khuyển (Chó Thần Việt Nam) theo hình tượng các chủng hệ động vật học của loài CHÓ (tên khoa học: Canidae) được thuần hóa để phục vụ con người, từ giống chó cỏ (tức loại chó săn đã được thuần hóa) ở vùng đống bằng vóc dáng thon nhỏ, đến giống chó ngao ở đất cao nguyên hàn đới vóc dáng cao to (ở cao nguyên Tây Tạng, vùng khí hậu cực lạnh Hy Mã Lạp Sơn: có giống chó ngao đặc biệt, bộ lông xù ở đầu – cổ giống bộ lông đầu sư tử), nên linh vật thể được bố trí ở các cổng làng cho đến ở các cung điện kinh đô HUẾ, xú ĐÀNG TRONG, đều như có “mẫu dáng mới” là hình chó ngao oai vệ được nghệ thuật hóa, gọi là con Nghê (đọc trại ra từ chữ “ngao”), khác nhiều với linh khuyển xứ ĐÀNG NGOÀI của vương triều họ Trịnh là vóc dáng loài chó cỏ (chủng Canidae) quen thuộc. Tuy nhiên các tượng linh khuyển 2 miền bắc nam nước ta vẫn có “mẫu số chung” như sau:

Con Nghê tại Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam
– Tượng Chó Thần luôn ở tư thế ngồi (không bao giờ nằm) nghiêm chỉnh, đầu cổ ngước lên, cặp mắt mở to nhìn thẳng phía trước, hai chân trước dựng thẳng, hai chân sau khép gối… tất cả tượng trưng tư thế sẵn sàng chồm tới để tấn công phủ đầu!
KẾT LUẬN TẠM
Các linh vật trang trí trong nghệ thuật tâm linh phong thủy mỗi quốc gia đều có nét riêng! Tuy ngày nay “thế giới phẳng” (giao lưu văn hóa toàn cầu) đã có thêm nhiều “linh vật XA LẠ” hiện diện ở các gia đình (nhất là những người thích sưu tầm hàng hóa – vật thể nước ngoài!), sự việc này cũng là điều bình thường thôi. Vấn đề quan trọng là tâm thức phong thủy của mỗi chúng ta phải rạch ròi: hiểu đúng “tình tự dân tộc “vốn ẩn tàng trong linh vật, để chọn lọc và trân trọng bố trí linh vật ấy ở nơi tôn nghiêm (đình, miếu, đền, Con Ngh tại Bảo tàng mỹ thuật Việt Nam chùa, nơi thờ tự gia tộc…), còn linh vật XA LẠ (nguồn gốc văn hóa vật thể nước ngoài) chỉ nên trang trí nơi tư gia, như là cách thuởng thức nghệ thuật của bạn bè thế giới… Tâm thức linh vật phong thủy nước ta chính là:
LINH KHUYỂN = CHÓ THẦN dân gian = CON NGHÊ cung đình Việt Nam! (tên khoa học của hệ động vật Canidae, chứ không phải chủng các hệ: Felidae, Pantherae, Phocidae hay Otariidae, là các con thú hoang 4 chân quen gọi là: lân, sư, cẩu, bưu, hổ… (4) mà văn hóa cổ Trung Hoa đã phổ cập sâu rộng tại những “cộng đồng người gốc Hoa” trên thế giới…)






