den-tho

Tín Ngưỡng Thờ Mẫu

Dân tộc nào cũng có tín ngưỡng, từ thờ Thần, thờ Mẫu tới thờ các Anh hùng dân tộc. Đây là một tiến trình tiến hóa của bất cứ nền văn minh nào trên thế giới, đi từ hỗn mang mông muội tới văn minh, hiện đại.

Đầu tiên từ một bộ tộc rồi dân tộc, từ sống chung chạ với thiên nhiên tới biết khai thác và khuất phục thiên nhiên để phục vụ cho đời sống xã hội, con người từ sợ hãi mà thờ cúng, cầu nguyện thiên nhiên trong đó có các vị thần (như thần núi, thần sông, thần biển, thần cây, thần cỏ, thần mây, mưa, sấm, chớp v.v..). Ngày một lớn lên theo thời gian, con người lần hồi hiểu biết, thông minh, trải nghiệm và nhận thức… mình sinh ra từ đâu, do dâu mà hiện hữu rồi trưởng thành, biết yêu thương, có đôi bạn, gia đình, anh em, người thân, dòng họ hết đời này nối tiếp đời kia. Ban đầu hiểu đó là “kiếp”, về sau hiểu là “đời”. Do đó, người ta nói dòng thời gian với con người bằng diễn tả hình tượng “đời đời, kiếp kiếp”, hoặc “ăn đời ở kiếp” để chỉ sự bền vững, lâu dài…

Trước khi hiểu được mẹ mình (sinh ra mình), con người hiểu người sinh ra bộ tộc, dân tộc mà Việt Nam là “đồng bào” (chung một bào thai, tức chung một mẹ). Đây là Mẹ chung một bộ tộc hay một dân tộc như Mẹ Âu Cơ (tôn xưng là Quốc mẫu). Đây là thời kỳ “Mẫu hệ” của loài người nói chung. Sau cuộc chia tay của Âu Cơ với Lạc Long quân, người Lạc Việt bắt đầu sống chung với cha – 18 đời (chi) Hùng vương (tôn xưng Quốc Tổ), thời kỳ chuyển sang “Phụ hệ”. Thời vua Hùng vương đã có tín ngưỡng thờ “Tổ tiên” (thờ chung người thân quá cố) – UNESCO đã công nhận tục lệ này.

Bên cạnh thờ cúng tổ tiên (ông bà, cha mẹ liên tiếp nhiều đời – dòng họ) tín ngưỡng thờ “Thánh” như Thánh Dóng (có công dẹp giặc Ân đời Hùng vương thứ 6), Thánh Tản viên… Chử Đồng tử – Tiên dung… Tới thế kỷ XVI, công chúa Liễu Hạnh, Ỷ Lan được tôn vinh là “Thánh Mẫu”. Tín ngưỡng thờ Mẫu tam, tứ phủ được UNESCO công nhận mới đây.

Nhưng có một sự kiện xảy ra hồi đầu thế kỷ I Tây lịch về tín ngưỡng thờ Mẫu ở thành cổ Luy Lâu (nay là Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh) mà ít người quan tâm. Đó lá “tín ngưỡng thờ Tứ pháp” (Thần Mây, thần Mưa, thần Sấm, thần Sét) tức Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện (tất cả đều là Nữ – Mẫu) được thờ ở bốn nơi (chùa) nhưng cũng có thể gọi “Phủ”. Ban đầu chỉ là Đền hay Đình nhưng sau đổi thành “Chùa” khi xuất hiện đạo Phật (Thích ca Mâu Ni), như chùa Cổ pháp, Diên ứng hay chùa Dâu trước lập ra là thờ nữ thần Mây (Pháp Vân, nay có thêm thần Mưa – Pháp Vũ), đến sau các tu sĩ Phật giáo (như Thiền sư Tỳ ni Đa Lưu Chi) là đầu nguồn truyền đạo Phật vào nước ta tới làm nơi tu thiền thờ thêm Phật Thích ca nhưng không ở vị trí trung tâm chính điện vì ở đây là chỗ thờ thần Mây (Pháp Vân). Hơn nữa ở bên cạnh có khánh thờ Thần đá (Pháp Quang) tức Linga theo Bà La môn – Ấn Độ giáo. Thần đá (linga) được nhà sư Khâu Đà La (giáo sĩ Ba la môn giáo) đặt dưới gốc cây dâu cổ thụ được người dân xứ Dâu phát hiện và tôn thờ như thần thánh. Còn bốn tượng nữ thần Mây, Mưa, Sấm, Sét được người dân chế tác từ cây cỗ thụ đó. Theo truyện cổ tích vùng này (Cổ châu Phật bản hạnh hiện còn lưu giữ ở đây dưới dạng tấm bản gỗ khắc), về sau có ghi trong “Lĩnh Nam trích quái” đời nhà Hậu Lê. Mẹ của bốn nữ thần này là Man Nương phối hợp với nhà sư Khâu Đa La sinh ra thời Sĩ Nhiếp quan Thái thú Nhà Hán cai quản Giao Châu đóng trị sở tại thành Luy Lâu. Tới khi Man Nương hóa thánh được thờ ở chùa Mẫu. Như vậy, tín ngưỡng thờ Mẫu phải được kể từ thời Tứ Pháp vào đầu công nguyên ở nước ta.

den-tho

Đền thờ Bà Mariamman số 45 Trương Định, phường Bến Thành, Quận 1, Tp. HCM ngày nay

Cùng thời với Tứ Pháp Luy Lâu ở Bắc Ninh, chúng ta thấy có:

Bà chúa Xứ ở núi Sam – Châu Đốc xuất hiện đầu tiên dưới hình thái bộ “Linga-Yoni” trên núi Sam. Tượng Bà chúa Xứ bằng sa thạch đặt trên bệ đá Yoni vào thời đại của vương quốc Phù Nam (thế kỷ II tới VII) với cảng Óc Eo (núi Sập – Thoại Sơn, Long Xuyên), nay là di tích văn hóa Óc Eo. Tượng Bà chúa Xứ (có nguồn gốc ban đầu là tượng thần Siva, một trong ba vị thần chủ chốt của Ấn Độ Giáo) đặt trên bệ đá Yoni trên núi Sam. Phu nhân của Tổng trấn An Giang Thoại Ngọc Hầu cho chuyển tượng này xuống làm miếu thờ ở trước Lăng mộ ông bà ngày nay. Theo dòng thời gian, tượng thần Siva được người dân biến thành Bà chúa Xứ để thờ ngày một phát triển thành cụm chùa. Bên cạnh tượng Bà còn có một tượng đá được phủ khăn đỏ gọi là Cậu hay Cô nhưng kỳ thực là chiếc Linga bằng đá.

Gần như cùng thời, vương quốc Champa hình thành ở các tỉnh miền Trung (từ thế kỷ II tới XVI) sùng đaọ Bà La Môn – Ấn Độ giáo trước, đạo Phật sau. Các tháp Chăm đều thờ thần Siva bằng biểu tượng bộ Linga-Yoni. Trong cụm tháp có một tháp thờ thần Nữ như Pô Naga ở Nha Trang, Pô Sa Nư ở Phan Thiết.

Mãi cho tới thế kỷ 19, ba ngôi đền Hindu (tên mới của Ấn Độ) mới được xuất hiện ở  Sài Gòn, một trong số này là đền Bà Mariamman số 45 Trương Định phường Bến Thành Quận 1 ngày nay. Còn hai đền kia thờ Ông, tức hai con của Bà. “Mariamman” là nữ thần, theo chiết tự chữ cổ Ấn Độ là Sancrit (chữ Phạn) “Mari” có nghĩa “Mưa”, “Amman” có nghĩa là “Mẹ”: Mẹ của Mưa (Thần Mưa). Theo truyền thuyết Ấn Độ, Mariamman là vị nữ thần đem lại mưa thuận gió hòa làm cho mùa màng bội thu. Bà được tôn thờ ở miền Nam Ấn Độ, làng nào cũng đều có một đền thờ. Bà còn được biết đến như một nữ anh hùng thuộc bộ tộc Dravian miền Nam Ấn Độ có công chống lại sự xâm nhập của bộ tộc Aryan từ phương Bắc. Đền thờ Bà cổ nhất xuất hiện vào khoảng 1.500 năm trước Công nguyên. Hiện có tới trên 80% dân Ấn Độ sùng bái tín ngưỡng thờ Bà. Do đó, hiện nay có nhiều người Ấn Độ tới cầu nguyện ở đền bà Mariamman.

Có thể nói thêm, toàn thể Nữ thần Ấn Độ được thờ ở các đền đều là tượng màu đen nên dân gian thường gọi “Chùa Bà Đen”. Tượng đen là tạc theo sắc dân đen, tức dân bản địa Dravian Ấn Độ là dân da đen. Dân ngoại lai Aryan là da trắng. Riêng các tượng Tứ pháp ở Bắc Ninh được tạc bằng chất liệu gỗ và sơn màu nâu cánh gián, bóng láng rất đẹp. Các tượng đều đội vương miện hình cánh sen và phủ vải màu từ đầu tới chân (ngồi xếp bằng). Tượng Bà Mariamman được trang phục theo phụ nữ Ấn Độ và bên ngoài phủ qua vai thêm nhiều lớp vải nhiều màu. Đặc biệt, tượng Bà được trang sức vòng cổ kết bằng hoa lài kết xâu có mặt mề đai nhận hạt hoa màu đỏ, trông thật lộng lẫy, oai nghi.

Ngày nay, Mẹ Việt Nam anh hùng là phụ nữ có nhiều con hy sinh trong hai cuộc kháng chiến thần thánh đã được Nhà nước tôn vinh và tổ chức chăm lo phụng dưỡng suốt đời, kể cả lo liệu chuyện hậu sự. Thật quý hiếm khi Hoa viên Nghĩa trang Bình Dương đã dành ra phần diện tích đất để quy hoạch Khu tưởng niệm, mai táng cho hàng trăm Bà mẹ VNAH hết sức trang trọng, nghĩa tình; thể hiện  truyền thống đạo lý của dân tộc “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn trái nhớ kẻ trồng cây”…

VL

 

Tổng quan về Cphaco
Tổng quan về Cphaco

Được thành lập từ năm 2006, công ty cổ phần đầu tư xây dựng Chánh Phú Hòa (Cphaco) là đơn vị tiên phong xây dựng mô hình hoa viên nghĩa trang tại Việt Nam - Hoa viên Nghĩa trang Bình Dương được quy hoạch và xây dựng như một nghĩa trang văn minh, xanh sạch đẹp, nhằm giữ gìn cảnh quan và bảo vệ sự trong lành của môi trường. Trong suốt hơn 10 năm hoạt động, công ty Cphaco không ngừng đổi mới và phát triển thêm nhiều lĩnh vực nhằm cung cấp các dịch vụ an táng trọn gói giúp khách hàng an tâm lên kế hoạch yên nghỉ cho bản thân và gia đình trong tương lai.