Ông bà ta từng đề cao chữ hiếu: Thiên hữu tứ thời xuân tại thủ, Nhơn sanh bách hạnh hiếu vi tiên (Trời có bốn mùa, mùa xuân đứng đầu, Người có trăm hạnh, hiếu làm đầu)
Theo chiết tự chữ Hán, từ Hiếu (孝) là do ghép hai chữ Lão (老) và Tử (子) mà thành, có nghĩa là cha mẹ trông cậy con khi về già “Dưỡng nhi đãi lão”. Đức hiếu trong gia đình, khiến gia đình có nề nếp, trật tự, hỗ trợ đắc lực cho gia đình “cái lò” đào tạo nhân cách ban đầu của con người, nơi chuẩn bị quan trọng để trao cho xã hội những công dân tốt. Cán bộ giỏi hết lòng phụng sự đất nước: con ngoan, trò giỏi, công dân tốt, gần như công thức ai cũng biết… Các nhà đạo đức học lớp trước mới phát triển thêm: Hiếu hữu tam: đại hiếu tôn thân, kỳ thứ phất nhục, kỳ hạ năng dưỡng (Hiếu có ba giai đoạn): Hiếu lớn nhất là tôn kính cha mẹ, kế đến là đừng làm điều gì điếm nhục cho cha mẹ, cuối cùng là phụng dưỡng cha mẹ.
Như vậy , phụng dưỡng cha mẹ là giai đoạn cuối trong ba giai đoạn báo hiếu khi cha mẹ về già và các con đã trưởng thành. Còn ở hai giai đoạn đầu khi con cái còn nhỏ, cha mẹ đang sức lao động chưa nhờ đến các con nuôi dưỡng thì việc báo hiếu cha mẹ là làm sao? “Đại hiếu tôn thân” – tôn kính cha mẹ cũng có nghĩa là nghe lời cha mẹ dạy. Tuổi nhỏ, các con của cha mẹ chỉ cần ngoan ngoãn hòa thuận trong gia đình, biết kính trên nhường dưới, chăm chỉ học giỏi, lễ phép với thầy cô giáo, thương yêu giúp đỡ bạn bè trong nhà trường làm cha mẹ vui lòng là đã báo hiếu với cha mẹ rồi. Vì cha mẹ nào không muốn con cái mình chăm ngoan học giỏi, được thầy yêu bạn mến? “Kỳ thứ phất nhục” là giai đoạn kế, khi con cái học hành thành đạt tham gia công việc xã hội giúp nước ích đời. Khi đó cha mẹ vẫn còn sức lao động, chưa cần các con nuôi dưỡng. Điều cần nhất của cha mẹ lúc này là mong các con mình làm điều tốt, đem tiếng thơm về cho gia đình dòng họ. “Kỳ hạ năng dưỡng” là khi cha mẹ già yếu mới cần sự phụng dưỡng của các con – phụng dưỡng là nuôi dưỡng với lòng kính trọng.
Theo quan niệm của Đức Phật, mỗi đời người phải trải qua tứ khổ: sanh, lão, bệnh, tử. Ba cái khổ sau thường có liên quan đến chữ hiếu của các con, đặc biệt cái khổ cuối cùng: Tử (chết) là trách nhiệm hoàn toàn thuộc về các con lo liệu chu đáo: lễ tang và an táng với tấm lòng thành kính, yêu thương như lúc cha mẹ còn sanh tiền. Ông bà ta quan niệm “sống cái nhà, thác cái mồ”, có người còn cho rằng: Dương gian là cõi tạm, âm cảnh mới về quê. Mộ phần là nhà riêng của ông bà, cha mẹ sau khi qua đời. Con cháu nào lại không muốn cha mẹ ông bà có “mồ yên mả đẹp”, ổn định đời đời tại một vùng đất có “vượng khí đắc địa” an lành.
Nhìn những dãy mộ phần thẳng tắp sang trọng ở Hoa viên Nghĩa trang Bình Dương hàng ngày được bàn tay cần mẫn lau chùi quét dọn sạch sẽ khang trang, có hoa tươi nở đủ bốn mùa, du khách đến đây đều cảm thấy ấm lòng. Đặc biệt con cháu những người dưới mộ sẽ rất cảm động và biết ơn vùng đất này, con người ở đây và càng yên tâm về sự lựa chọn được nơi xứng đáng. Nhiều người còn xem đây là điểm hội tụ tâm linh để quy tụ con cháu trong dòng họ đến viếng mộ, cúng kiến ông bà cha mẹ của mình vào những dịp lễ Thanh minh, Vu lan, Tết nguyễn đán hàng năm.
Chăm lo cho bậc sinh thành an nghỉ tại vùng đất “tú khí đắc địa” cũng là cách báo hiếu
Nhìn ngôi mộ, người ta có thể đoán được gia thế, đức độ của người nằm dưới mộ và hiểu thêm lòng hiếu thảo của con cháu đã gắng công báo hiếu với đấng sanh thành và đây cũng là những tấm gương để cho con cháu của họ học tập noi theo. Và như một quy luật tự nhiên: Ai hiếu thảo với cha mẹ ông bà thì con cháu sẽ hiếu thảo với mình. Chữ hiếu Việt Nam nằm trong phạm trù bản sắc văn hóa Việt Nam – truyền thống tuyệt vời của dân tộc ta chắc chắn sẽ được lưu truyền mãi mãi.
Tác giả: Thanh Bền






