Một Người Thật Một Tấm Gương Sáng Bậc Nhất Về Tình Yêu Nước
Thượng Tọa Thích Huệ Thông
Trưởng Ban Trị sự GHPGVN tỉnh Bình Dương
Cụ Nguyễn Sinh Sắc người làng Sen (nay thuộc xã Kim Liên huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An) sinh năm 1862 là con ông Nguyễn Sinh Nhậm và bà Hà Thị Hy. Cha mẹ mất sớm nên ông sống với người anh cùng chakhác mẹ, sau đó về làm con nuôi cụ Tú Hoàng Đường ở làng Hoàng Trù ( tức làng Chùa nay thuộc xã Kim Liên). Ông được cụ Tú thương yêu, nuôi ăn học và gả con gái là bà Hoàng Thị Loan làm vợ.
Năm 1894 ông đỗ cử nhân, năm 1901 đỗ phó bảng nhưng không ra làm quan mà ở nhà dạy học và dạy dỗ con cái.
Với quan niệm học để làm người chớ không phải học để làm quan, trong hoàn cảnh đất nước bị thực dân Pháp thống trị, làm quan là làm tay sai cho giặc, là đắc tội với đồng bào, nên sau khi đỗ đạt, cụ đã hai lần từ chối ra làm quan của triều đình. Năm 1906, khi không còn lý do thoái thác, cụ đành phải ra nhận chức Thừa Biện Bộ Lễ. Bình sinh cụ thường nói: “Quan trường thị nô lệ trung, chi nô lệ, hựu nô lệ” (Quan trường là nô lệ, trong đám nô lệ càng nô lệ hơn).

Tháng 5 năm 1909, Hội đồng nhà vua và Khâm sứ Trung kỳ bổ nhiệm cụ chức Tri huyện Bình Khê (Bình Định). Cụ Sắc rất căm ghét bọn cường hào ác bá tại địa phương. Nhiều lần nghe dân chúng than oán và từng mục thị các cố đạo dựa vào thế lực của người Pháp bức bách dân lành, do đó cụ Sắc đã nhiều lần nghiêm khắc xử giam bọn chúng. Nhân vụ tên tên cường hào Tạ Đức Quang bị chết sau khi bị bắt giam và được thả ra hai tháng, Hội đồng Nhiếp chính triều đình Huế xử phạt cụ 100 trượng nhưng sau đó đổi hình phạt giáng 4 cấp và thải hồi. Đây là điều kiện thuận lợi để cụ thực hiện chí nguyện dấn thân cứu nước.
Sau khi rời chốn quan trường, tháng 3-1911, cụ vào Phan Thiết, rồi đến Sài Gòn, cùng Nguyễn Tất Thành xuống Mỹ Tho gặp Phan Chu Trinh, trong lúc Phan Chu Trinh đang chuẩn bị sang Pháp. Cụ chu du vùng đất Nam kỳ để truyền bá tư tưởng yêu nước, chống ngoại xâm. Suốt hành trình vào Nam, hầu như các chùa là chốn dừng nghỉ, Chư Tăng là bạn tâm giao để Cụ kết duyên tâm tình đời đạo. Cụ từng trao đổi hàn huyên Phật học với các bậc cao Tăng nổi tiếng đương thời như Hòa thượng Khánh Anh, Hòa thượng Khánh Hòa, Hòa thượng Thiện Chiếu, Hòa thượng Từ Văn, Hòa thượng Chí Thành, Hòa thượng Viên Minh… Vốn giỏi chữ Nho, Cụ giúp các nhà sư dịch kinh, chú giải kinh Phật. Biết Cụ là người tinh thông kinh luận, năm 1922 nhân dịp chùa Kim Tiên (Cai Lậy) tổ chức lễ khánh thành, ông Nguyễn Thành Long (Hương cả Siếu) có nhờ Cụ Sắc viết tặng đôi liễn đối, và câu đối này hiện nay có lưu lại chùa Hội Khánh, Cụ viết:
“Đại đạo quảng khai thố giác khêu đàm để nguyệt
Thiền môn giáo dưỡng qui mao thằng thụ đầu phong”.

Chùa Hội Khánh tỉnh Bình Dương
Tạm dịch:
“Mở rộng đạo lớn như sừng thỏ như mò trăng đáy nước
Nuôi dưỡng mái chùa như long rùa như cột gió đầu cây”.
(câu đối này gắn liền với niên đại thời bấy giờ, khi đất nước đang bị giặc Pháp đe dọa)
Khoảng cuối năm 1923, do mật thám Pháp theo dõi, cụ từ Thủ Đức đi đến nhà của Gaston và từ đây cụ đến chùa Hội Khánh để gặp người đồng chí của mình là Phan Đình Viện tức Tú Cúc (cha của nhà cách mạng Phan Trọng Bình,quê Hà Tĩnh, tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục bị Pháp truy lùng trốn vào Nam và ở chùa Hội Khánh từ năm 1922). Và từ đây Cụ cùng với Hòa thượng Thiện Quới, Hòa thượng Từ Văn, Thầy Ký Cội… thành lập Hội Danh dự yêu nước, lấy chùa làm trụ sở. Hoạt động của hội là truyền bá, phổ biến và chấn hưng đạo Phật, nhưng bên trong thực chất là tuyên truyền kích động phong trào yêu nước thông qua các buổi thuyết pháp, giảng đạo, diễn thuyết, mở các lớp dạy chữ nho, dạy bắt mạch, hốt thuốc, kinh dịch… (Cụ đến chùa Hội Khánh sau khi ra viện ngày 9-12-1923 đã được mật thám Sài Gòn nhận tin báo cáo số 879: …Nguyễn Sinh Huy sau khi ra viện sẽ tập trung ở Thủ Dầu Một để vượt biên. Chúng xin khâm sứ Trung kỳ một chỉ thị bắt ngay. Do sự truy tìm khắt khe của mật thám, nên Cụ ít ở một nơi cố định mà thường xuyên đi lại nhiều nơi như Thủ Dầu Một, Tân Khánh, Tương Bình Hiệp…
Năm 1924 thầy thuốc bắc Nguyễn Văn Sĩ ở Tương Bình Hiệp là hội viên danh dự ở chùa Hội Khánh. Tiệm thuốc này có vài lần cụ Nguyễn Sinh Sắc đến họp với các thầy thuốc ở chợ Thủ Dầu Một và Sài Gòn. Họ trao đổi với nhau về kinh nghiệm chữa bệnh và gương sáng y đạo của Đại y tôn Hải Thượng Lãn Ông (1720-1791). Khi đó có Nguyễn Văn Khê (Bảy Khê) 14 tuổi là con của thầy Sĩ hầu trà cho quý thầy. Đến năm 1992 ông Bảy Khê 87 tuổi nối nghiệp cha làm thầy thuốc vẫn còn nhớ lại Cụ Sắc nói lời của Đại y tôn: Nghề làm thuốc là nhân thuật, thầy thuốc hẳn phải lấy việc giúp người làm điều hay… các thầy có mặt ở đó bàn luận: Ông thầy Huế hiểu biết sâu rộng y học cổ truyền nước ta.
Khoảng cuối năm 1923, do mật thám Pháp theo dõi, cụ từ Thủ Đức đi đến nhà của Gaston và từ đây cụ đến chùa Hội Khánh để gặp người đồng chí của mình là Phan Đình Viện tức Tú Cúc (cha của nhà cách mạng Phan Trọng Bình,quê Hà Tĩnh, tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục bị Pháp truy lùng trốn vào Nam và ở chùa Hội Khánh từ năm 1922). Và từ đây Cụ cùng với Hòa thượng Thiện Quới, Hòa thượng Từ Văn, Thầy Ký Cội… thành lập Hội Danh dự yêu nước, lấy chùa làm trụ sở. Hoạt động của hội là truyền bá, phổ biến và chấn hưng đạo Phật, nhưng bên trong thực chất là tuyên truyền kích động phong trào yêu nước thông qua các buổi thuyết pháp, giảng đạo, diễn thuyết, mở các lớp dạy chữ nho, dạy bắt mạch, hốt thuốc, kinh dịch… (Cụ đến chùa Hội Khánh sau khi ra viện ngày 9-12-1923 đã được mật thám Sài Gòn nhận tin báo cáo số 879: …Nguyễn Sinh Huy sau khi ra viện sẽ tập trung ở Thủ Dầu Một để vượt biên. Chúng xin khâm sứ Trung kỳ một chỉ thị bắt ngay. Do sự truy tìm khắt khe của mật thám, nên Cụ ít ở một nơi cố định mà thường xuyên đi lại nhiều nơi như Thủ Dầu Một, Tân Khánh, Tương Bình Hiệp…
Năm 1924 thầy thuốc bắc Nguyễn Văn Sĩ ở Tương Bình Hiệp là hội viên danh dự ở chùa Hội Khánh. Tiệm thuốc này có vài lần cụ Nguyễn Sinh Sắc đến họp với các thầy thuốc ở chợ Thủ Dầu Một và Sài Gòn. Họ trao đổi với nhau về kinh nghiệm chữa bệnh và gương sáng y đạo của Đại y tôn Hải Thượng Lãn Ông (1720-1791). Khi đó có Nguyễn Văn Khê (Bảy Khê) 14 tuổi là con của thầy Sĩ hầu trà cho quý thầy. Đến năm 1992 ông Bảy Khê 87 tuổi nối nghiệp cha làm thầy thuốc vẫn còn nhớ lại Cụ Sắc nói lời của Đại y tôn: Nghề làm thuốc là nhân thuật, thầy thuốc hẳn phải lấy việc giúp người làm điều hay… các thầy có mặt ở đó bàn luận: Ông thầy Huế hiểu biết sâu rộng y học cổ truyền nước ta.

Vào ngày 6-3-1978, đồng chí Lê Mạnh Trinh nguyên Phó ban nghiên cứu Lịch sử Đảng Trung Ương từ Hà Nội vào Sông Bé làm việc với lãnh đạo Ban Nghiên cứu lịch sử Đảng tỉnh, thăm cán bộ nhân viên và đến thăm chùa Hội Khánh nơi Cụ Sắc đến hoạt động. Ông Lê Mạnh Trinh đã gặp Hòa thượng Quảng Viên, Trụ trì chùa Hội Khánh và Hòa thượng Quảng Viên có báo cáo, giới thiệu với đồng chí Phó ban nghiên cứu lịch sử Đảng Trung ương các hiện vật: một cái la bàn, một quyển sổ tay viết chữ Hán Nôm của Cụ Nguyễn Sinh Sắc để lại được giữ kín qua bốn đời trụ trì từ thứ VI đến thứ IX. Nhà lãnh đạo cầm hiện vật, xúc động nói: kỷ vật còn đó mà cố nhân vĩnh biệt, nhưng vong linh vẫn còn đây, mọi người đều im lặng trong giây phút đồng cảm như mặc niệm trong tâm.

Ông Lê Mạnh Trinh cho biết thêm trong mùa thu năm 1926, lý do Cụ sắc đột ngột ra đi khỏi chùa Hội Khánh không phải phạm giới tu. Cụ là một tín đồ thuần thành, được tin cậy của sư trụ trì, hai người đồng hành trong hội danh dự suốt mấy năm ở vùng tỉnh lỵ Thủ Dầu Một. Lý do Cụ rời khỏi chùa Hội Khánh là do mật thám Đông Dương và nhà cầm quyền Pháp ở Thủ Dầu Một phát hiện Cụ sắc có hoạt động hội kín nên cho bọn tay chân bám sát. Cụ Sắc linh tính biết trước nên vội vàng đi ngay, để quên các đồ nghề. Hành động này của Cụ nhằm đảm bảo an toàn cho bản thân và cho các Thầy ở chùa Hội Khánh. Cụ đến Cao Lãnh tiếp tục các hoạt động yêu nước và mất ngày 26 tháng 11 năm 1929 trong phần đất của chùa Hòa Long xã Hòa An (thành phố Cao Lãnh tỉnh Đồng Tháp hiện nay).
Cụ Sắc trong suốt thời gian hoạt động truyền bá tư tưởng yêu nước, theo quan điểm của cụ là dựa vào đạo Phật trong các buổi thuyết giảng đạo pháp. Muốn làm được điều này cụ phải nghiên cứu Phật học, thâm nhập kinh điển và cả việc tu tập mới có đủ nội lực cho việc dùng đạo Phật để truyền bá yêu nước. Cụ thể là cụ thường đến các ngôi chùa để nghiên cứu Tam Tạng kinh điển, đàm đạo với hầu hết các bậc danh Tăng đương thời, đặc biệt là những danh Tăng có tư tưởng nhập thế. Tất cả những cuộc đàm đạo, trao đổi học Phật của cụ đều được các bậc cao Tăng nhận xét đánh giá trình độ học Phật uyên thâm của Cụ.
Có thể nói, từ phong trào Hội Danh dự yêu nước của Cụ Nguyễn Sinh Sắc và Hòa thượng Từ Văn thành lập tại chùa Hội Khánh đã có sức lan tỏa trong giới yêu nước và đồng bào Thủ Dầu Một, những việc làm, những cử chỉ thân thiện và sự đóng góp âm thầm, tích cực của vị thân sinh Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã xây dựng nên những tấm lòng yêu nước nồng nàn của người dân đất Thủ, Cụ không những là tấm gương sáng cho hậu thế, cho đất nước dân tộc, Cụ còn là một người rất có công trong việc tuyên truyền giáo lý nhà Phật trong phong trào chấn hưng Phật giáo lúc bấy giờ: Cụ là một nhà Nho yêu nước, một người thầy tâm huyết, Một Tấm Gương Sáng Soi Đường Hậu Thế của Bậc Chân Nhân.





