Con người từ xa xưa đã quan tâm đến việc mai táng người đã mất bằng nhiều hình thức mai táng khác nhau. Mỗi hình thức đều có triết lý nhân sinh riêng, chịu ảnh hưởng bởi phong tục, văn hóa và quan điểm sống khác nhau. Ở Việt Nam, địa táng (chôn cất) và hỏa táng là hai hình thức mai táng chủ yếu. Trong khi chôn cất phổ biến hơn vì tồn tại song song với văn hóa Việt Nam bao đời nay thì hỏa táng là hình thức mới được sử dụng vài thập niên trở lại đây. Trong phạm vi bài này, chúng tôi xin phép bàn luận về hai loại hình này dưới góc nhìn văn hóa, tôn giáo và môi trường để quý độc giả có thêm thông tin tham khảo để đưa ra lựa chọn khi cần.
Văn hóa
Quan niệm của người Việt rằng khi nằm xuống thì nên có “mồ yên, mả đẹp” đã giúp cho hình thức địa táng tồn tại rất lâu cho đến ngày nay. Việc chôn cất kỹ lưỡng một người không chỉ là cách thể hiện sự tôn trọng với người đó mà còn là một cách để giữ gìn môi trường sống, tránh làm ô nhiễm nguồn đất, nguồn nước.
Ở bất kỳ quốc gia nào cũng có hình thức mai táng này. Tuy nhiên, trong tâm thức của người Việt từ xưa đến nay, chôn cất đã là điều thiết yếu. Sử sách ghi lại, từ nền văn hóa Hòa Bình – Bắc Sơn, người Việt cổ đã quan tâm đến việc xử lý thi hài người chết bằng cách chôn cất trong hang động. Đến thời kỳ Nho Giáo, người Việt bắt đầu chăm lo mồ mả theo thuật phong thủy, chôn cất phải đúng hướng, đúng ngày. Trong sách “Việt Nam phong tục” của Phan Kế Bính, hình thức mai táng bằng chôn cất được miêu tả kỹ càng, kèm theo các điều lưu ý, cấm kỵ trong quá trình chôn cất. Trong một số trường hợp, sau khi chôn cất cha mẹ ba năm, con cái còn phải cải táng phần mộ đến nơi đất tốt hơn. Chính vì thế mà những hình thức mai táng hiện đại như hỏa táng đối với phần đông người Việt, nhất là những vùng nông thôn và tỉnh thành nhỏ, vẫn còn hết sức mới mẻ. Người ta xem việc hỏa thiêu thi thể người đã khuất là một việc làm không nên.
Tôn giáo
Phật Giáo
Triết lý của nhà Phật cho rằng con người xuất thân từ cát bụi thì khi chết sẽ trở về cát bụi. Do đó, hỏa táng là cách giúp người chết sớm được siêu thoát. Người Việt Nam đa phần theo đạo Phật, tin Phật nhưng vẫn còn e ngại hỏa táng vì quá quen với việc chôn cất. Cho đến vài chục năm gần đây, hỏa táng mới dần được chấp nhận. Tuy vậy, Phật Giáo không khuyên chúng ta nên chọn hỏa táng hay địa táng, mà là do di nguyện của người đã khuất, hoặc quyết định của gia đình.

Bên cạnh đó, ta không thể phủ nhận sự ảnh hưởng của Phật Giáo lên các quyết định này. Ví dụ, ở Việt Nam có hai phái Phật giáo chính là Bắc Tông và Nam Tông. Phái Bắc Tông, có ảnh hưởng bởi Nho Giáo từ Trung Hoa, cho rằng hỏa táng không phù hợp với đạo lý dành cho người đã khuất, nên người ta vẫn chọn hình thức chôn cất. Trong khi đó, người Việt theo đạo Phật phái Nam Tông ở một phần của phía Nam thì thường chọn hỏa táng. Trong cuộc sống hiện đại, con người dần chấp nhận hỏa táng vì đây là một hình thức hợp vệ sinh, bảo vệ môi trường, tiết kiệm đất sinh sống, cũng như cắt giảm nhiều vấn đề như xây mộ, tảo mộ, bảo quản mộ, và cải táng. Việc hỏa táng càng ngày càng phổ biến hơn trong cộng đồng Phật giáo.
Sau khi hỏa táng, tro cốt đa phần được gửi vào chùa, nhà lưu tro cốt, hoặc số ít được thờ tại gia. Việc này cũng tùy thuộc vào niềm tin và quan điểm của mỗi gia đình. Nhiều người cho rằng khi tro cốt được đặt ở những nơi thiêng liêng như chùa chiền thì linh hồn người đã khuất sẽ được an toàn. Tuy nhiên, theo quan điểm nhà Phật, việc đó chỉ là một cách để biểu lộ niềm tôn kính trọng và yêu thương với người đã khuất.
Ngoài Phật giáo thì Công giáo là tôn giáo ảnh hưởng đến việc an táng của người Việt Nam nhất. Chúng ta sẽ bàn về quan điểm của Công Giáo trong việc chọn chôn cất và hỏa táng vào phần tiếp theo của bài viết.
Để biết thêm chi tiết về các dịch vụ tang lễ, an táng và các sản phẩm mộ của Hoa viên Nghĩa trang Bình Dương, quý khách có thể liên hệ qua 2 số hotline 0126 999 0126 hoặc 0869 555 444 để được tư vấn miễn phí.






