Nói đến Bùi Giáng (BG) ai cũng biết Ông là một nhà thơ tài hoa, nổi tiếng khác thường. Trong giới văn nghệ sĩ ở miền Nam trong khoảng thập niên từ 50 đến 90 thế kỷ qua, hiếm thấy nhà thơ nào có nhiều giai thoại về mình, ngay khi còn sống, trong phong cách cũng như trong sáng tác, kể cả trong các công trình biên khảo, dịch thuật như Bùi Giáng. Ngôn ngữ ý tưởng trong tác phẩm của ông luôn khác lạ, phong phú đặc biệt là trong thơ ca. Bút lực của ông thật sung mãn, riêng số lượng tác phẩm được ấn hành đã lên đến 55 cuốn. Đó là chưa kể các di cảo và rất nhiều bài thơ rời đã được cảm tác, ứng tác vào những ngày tháng rong chơi đó đây trong suốt nhiều thập niên, cho đến lúc ông qua đời (7/10/1998). Chỉ riêng trong lĩnh vực thơ ca, cũng đã có quá nhiều giai thoại chung quanh các “kỳ tích” sáng tác về mặt số lượng cũng như về khả năng ứng tác bén nhạy, ngộ nghĩnh hiếm thấy ở thơ ông. Nhà biên khảo T. Khuê, trong “Từ điển Văn học” (Bộ mới xb 2004) đã gọi hiện tượng BG là một huyền thoại: “Huyền thoại Bùi Giáng hạ bút thành thơ ở thập niên 60, được xác định như một hiện tượng văn học độc đáo, cần thơ là viết ngay tại chỗ…”. Nói về bút lực của BG, nhà biên khảo trên còn ghi nhận: “Theo lời Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Thanh Tuệ, thơ ông có đến nghìn bài. Và nội trong một ngày, ông có thể viết xong vài trăm trang sách. Đúng là kỷ lục có một không hai…” (Sđd trang 162). Được biết hai nhà văn, nhà thơ nói trên khá nổi tiếng và nghiêm túc, còn Thanh Tuệ là Giám đốc một nhà xuất bản có uy tín tại Sài Gòn thời bấy giờ.Nguồn cảm hứng về thơ của BG vô cùng phong phú, dường như là bất tận và có lẽ đã “phát tiết” một cách mạnh mẽ vào những năm đầu thập niên 60. Chỉ trong hai năm 1962 và 1963, BG đã cho xuất bản đến 5 tập thơ như là Mưa nguồn; Lá hoa cồn, Ngàn thu rớt hột, Hoa trên ngàn, Bài ca quần đảo. Trong đó, có tập thơ Mưa nguồn, (Nxb Trang Phượng, Sài Gòn, 1962) gồm 137 bài thơ, in trên giấy tốt, dày 180 trang khổ lớn, được cả bạn đọc lẫn giới phê bình văn học đánh giá cao, xem đây là thi phẩm thành công nhất, khẳng định thi tài của nhà thơ BG.ói đến Bùi Giáng (BG) ai cũng biết Ông là một nhà thơ tài hoa, nổi tiếng khác thường. Trong giới văn nghệ sĩ ở miền Nam trong khoảng thập niên từ 50 đến 90 thế kỷ qua, hiếm thấy nhà thơ nào có nhiều giai thoại về mình, ngay khi còn sống, trong phong cách cũng như trong sáng tác, kể cả trong các công trình biên khảo, dịch thuật như Bùi Giáng. Ngôn ngữ ý tưởng trong tác phẩm của ông luôn khác lạ, phong phú đặc biệt là trong thơ ca. Bút lực của ông thật sung mãn, riêng số lượng tác phẩm được ấn hành đã lên đến 55 cuốn. Đó là chưa kể các di cảo và rất nhiều bài thơ rời đã được cảm tác, ứng tác vào những ngày tháng rong chơi đó đây trong suốt nhiều thập niên, cho đến lúc ông qua đời (7/10/1998). Chỉ riêng trong lĩnh vực thơ ca, cũng đã có quá nhiều giai thoại chung quanh các “kỳ tích” sáng tác về mặt số lượng cũng như về khả năng ứng tác bén nhạy, ngộ nghĩnh hiếm thấy ở thơ ông. Nhà biên khảo T. Khuê, trong “Từ điển Văn học” (Bộ mới xb 2004) đã gọi hiện tượng BG là một huyền thoại: “Huyền thoại Bùi Giáng hạ bút thành thơ ở thập niên 60, được xác định như một hiện tượng văn học độc đáo, cần thơ là viết ngay tại chỗ…”. Nói về bút lực của BG, nhà biên khảo trên còn ghi nhận: “Theo lời Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền, Thanh Tuệ, thơ ông có đến nghìn bài. Và nội trong một ngày, ông có thể viết xong vài trăm trang sách. Đúng là kỷ lục có một không hai…” (Sđd trang 162). Được biết hai nhà văn, nhà thơ nói trên khá nổi tiếng và nghiêm túc, còn Thanh Tuệ là Giám đốc một nhà xuất bản có uy tín tại Sài Gòn thời bấy giờ.
Trong tập thơ này có khá nhiều bài thơ hay cho thấy tài năng khác thường và phong cách khoáng đạt, phiêu bồng nhưng cũng không kém phần sâu sắc, tỉnh táo của nhà thơ, không giống như phần lớn các bài thơ sau này thường mang tính cách đùa bỡn, lạ lẫm, khác thường của một “đười ươi thi sĩ” như nhà thơ tự nhận. Người yêu thơ vẫn thường nhắc nhở, trích dẫn từ các bài thơ đặc sắc của BG trong tập thơ này như các bài Cỏ hoa hồn du mục, Áo xanh, Phụng hiến, Chào Nguyên Xuân, Mắt buồn, Mai sau em về…
Nói đến nhà thơ BG không thể không nhắc đến tập thơ Mưa nguồn ở trên. Đặc biệt, trong tập thơ này còn có một bài thơ khá độc đáo liên quan đến việc nhà thơ đi chăn dê mà chúng tôi muốn nhắc đến trong bài viết này. Bài thơ phản ánh khá rõ về tư duy triết lý, về quan niệm nhân sinh, thẩm mỹ của nhà thơ đặc biệt và khác người này. Đó là bài “Nỗi lòng Tô Vũ” được tác giả ghi ở đề từ để “Kỷ niệm một đoạn đời 15 năm chăn dê ở núi đồi Trung Việt”…,nhưng nội dung chẳng nói trực tiếp đến chuyện Tô Vũ như tên bài thơ.
Thực ra, nhà thơ BG đã có thời gian đi chăn dê ở vùng đồi núi huyện Quế Sơn, tỉnh Quảng Nam trong khoảng hơn ba năm (từ năm 1950 đến 1952). “Mười lăm năm” ghi trong đề từ, có lẽ do tác giả liên tưởng đến mười lăm năm trôi nổi “đoạn trường” của Thúy Kiều, nhân vật được ông hết lòng thương cảm trong kiệt tác “Đoạn trường tân thanh” của thi hào Nguyễn Du, người mà nhà thơ rất mực cảm phục. Còn chuyện ông Tô Vũ là sứ thần nhà Hán, Trung Hoa, bị Hung Nô bắt đày đi chăn dê đến 19 năm. Chẳng qua đây chỉ là hình ảnh được tác giả vay mượn để tự coi mình như một kẻ bị “lưu đày” ngay tại trần gian này. Nhưng khác với Tô Vũ, nhà thơ lại mang tâm trạng gắn bó và yêu mến chốn trần gian mà nhà thơ đang bị “lưu đày”. Và cảm nhận ấy được nói rõ trong bài thơ “Phụng hiến”, một trong những bài thơ rất hay của BG: “Tôi sẽ tiếc thương trần gian mãi mãi. Vì nơi đây tôi sống đủ vui sầu”
Nhân năm nay là năm Mùi (Ất Mùi, 2015), chúng tôi liên tưởng đến chuyện nhà thơ Bùi Giáng đi chăn dê cách đây hơn 60 năm tại đồi núi quê hương Quảng Nam đã được ông miêu tả một cách sinh động đầy sự hoan lạc, giữa khung cảnh thiên nhiên nguyên sơ thuần khiết cùng bầy dê xinh đẹp đáng yêu của nhà thơ: “Đồi tăm tắp chạy về ôm chân núi (…) Trời núi đồi ngây ngất nhảy dê nhanh.
Thôi từ nay tha hồ em mặc sức. Vang vang lên đồi núi vọng be be (…)”
Bài thơ trên được in trọng tập Mưa nguồn. Nhờ duyên may thi phẩm này đã được tác giả tặng cho chúng tôi ngay khi vừa mới xuất bản (1962), cách nay đã hơn nửa thế kỷ. Chúng tôi xem đây như là món quà kỷ niệm mang ý nghĩa đặc biệt với nhiều ưu ái của một vị đàn anh, một ông thầy tên tuổi dành cho đứa em, người học trò cùng quê, gần gũi…
Như đã nói ở trên, nhân năm Mùi nhớ lại chuyện chăn dê, nhớ đến các bài thơ, tập thơ của ông mà chúng tôi vẫn luôn giữ gìn cẩn thận và xem đó như là những cơ duyên đưa đẩy để hình thành nên bài viết này. Qua đây, chúng tôi muốn được nói rõ hơn đôi điều về phần tiểu sử của nhà thơ BG trước khi ông rời “cố quận” Quảng Nam để vào tiếp tục được “lưu đày” ở nơi “Phố thị” Sài Gòn cho đến cuối đời (1953 – 1998). Đó cũng là thời gian nhà thơ thai nghén hoặc phác thảo bài thơ “Nỗi lòng Tô Vũ” và nhiều bài thơ hay trong tập Mưa nguồn sau này (1962). Nhiều người muốn biết về đoạn đời này của ông nhưng thường thiếu tư liệu rõ ràng và chính xác. Chúng tôi cho rằng những thông tin sắp dẫn dưới đây về vấn đề nêu trên là đáng tin cậy hơn cả. Chẳng hạn như bài viết của tác giả Nguyễn Minh Sơn (1) có nhan đề: “Bùi Giáng chăn dê, một đoạn đời du mục”. Ông là người đã trực tiếp gặp gỡ tìm hiểu nhiều thông tin chưa rõ về BG, từ các thân nhân thân cận từng sống chung với nhà thơ, lúc ông còn ở tại quê nhà Quảng Nam. Theo đó, nhà thơ BG sinh ngày 17/12/1926 tại làng Vĩnh Trinh huyện Duy Xuyên, Quảng Nam; con ông Bùi Thuyên (Cửu Tý), thuộc một dòng họ giàu có, có nhiều người học giỏi và thành đạt. Ông học tiểu học ở Hội An, học trung học ở trường Thuận Hóa, Huế (ông là học trò giỏi của các thầy Đào Duy Anh, Hoài Thanh, Trần Đình Đàn). Đậu tú tài ban văn chương (1950) nhưng ông không muốn ghi danh học đại học và trở về quê đọc sách, tự học… Rồi ông thích đi chăn dê ở vùng đồi núi Trung Phước, nơi quê vợ. Vợ ông là một nữ sinh xinh đẹp, học sau ông một lớp ở trường Viên Minh, Hội An. Bà tên Phạm Thị Ninh là người vợ đảm đang rất chiều chồng và cũng được chồng yêu thương. Người em ruột của bà Ninh là ông Phạm Văn Hòa đã kể lại chuyện nuôi và chăn dê của BG như sau: “Ông anh rể của tôi kỳ lắm! Hồi đó ông mua một đàn dê khoảng 100 con và rủ tôi cùng đi chăn. Buổi sáng thường lùa đàn dê vào rừng… Sau đó hai anh em xuống khe, ngồi dưới bóng các bụi tre và anh đọc thơ, làm thơ suốt buổi. Có khi ông lang thang lên tận các quả đồi, hái hoa lá kết thành từng vòng rồi thơ thẩn đeo vào cổ dê (…). Tôi không hiểu hồi đó ông có tâm sự gì, nhưng chỉ biết nuôi dê để chăn thả vui chơi thôi, không thấy buôn bán và cũng không thấy giết thịt vì ông rất yêu những con dê. Mỗi con ông đặt cho một cái tên rất kỳ lạ!”. Theo ông Sơn “Chuyện Bùi Giáng chăn dê nhiều người còn nhớ. Đấy là hình ảnh một thanh niên lặng lẽ lùa dê vào núi, tay ôm một cuốn sách tiếng Pháp dày cộm. Lúc đó BG vừa đỗ tú tài toàn phần…”
Nhưng rồi một biến cố bất ngờ đã xảy đến cho gia đình ông. Người vợ yêu quí của ông đột ngột qua đời vào năm 1952. Nhà thơ Tường Linh (hiện đang sống tại Hồ Chí Minh) quê cũng ở Trung Phước, lúc đó là học trò tiếng Pháp của BG, đã kể lại tai họa nói trên: “Vào một ngày mưa gió dầm dề, BG ở trên núi xa thì ông nghe tin vợ mình qua đời. Ông hốt hoảng băng mình chạy dưới mưa, vấp phải một gốc cây, ngã xuống đất bất tỉnh… Bà Ninh, vợ ông chết một cách đột ngột sau một cơn bạo bệnh bất ngờ, người nhà không cứu chữa kịp, lúc đó bà mới 26 tuổi. Đây là cú sốc lớn trong đời BG. Sau đau thương mất mát đó, ông bỏ hẳn công việc nuôi và chăn dê ở quê vợ, chia tay với “Cỏ hoa hồn du mục”, để trôi dạt vào phương Nam Sài Gòn.
Thời gian nhà thơ đichăn dê ở vùng núi Tây Quế Sơn, gia đình chúng tôi cũng tản cư đến ở tại làng Khánh Bình, cách nhà ông ở Trung Phước chừng 4, 5 cây số. Năm đó chúng tôi đang học năm thứ nhất bậc trung học, có nghe phong phanh về một ông họ Bùi, học giỏi, đã có bằng tú tài, mà lại thích đi chăn dê…
Thế rồi, đất nước, cuộc sống có nhiều biến động, thay đổi. Khoảng 5, 6 năm sau đó, chúng tôi cũng vào Sài Gòn để đi học, duyên may được gặp lại nhà thơ, bấy giờ ông đang dạy ở một số trường trung học tại Sài Gòn – Gia Định. Nhờ ở gần nhà nên thỉnh thoảng chúng tôi có đến thăm ông, được biết ông vừa dạy học vừa viết được nhiều sách về giáo khoa, biên khảo văn học, triết học và thơ ca. Thi phẩm “Mưa nguồn” mà chúng tôi đang nhắc đến là một trong số tác phẩm giá trị đó của nhà thơ. Cũng từ thi phẩm này đã gợi nên cho chúng tôi một cảm nhận mơ hồ về một cơ duyên nào đó giống như một dự cảm, một tiên cảm giữa sách và người được tặng sách trước đây hơn nửa thế kỷ (1962-2015). Đến hôm nay lần dở lại từng trang thơ tập “Mưa nguồn”, dừng lại những bài thơ khơi gợi sự liên tưởng lòng bồi hồi nhớ về chuyện xưa, người xưa…

Ngày đó, mới vào sống ở Sài Gòn, chưa có dịp đến đất Bình Dương. Nhưng sau khi được nhà thơ BG tặng cho tập Mưa nguồn (vào năm 1962) chúng tôi mới biết đến tên đất Bình Dương qua ba bài thơ viết về Bình Dương của ông, được in liền nhau trong tập thơ này. Đó là các bài “Anh về Bình Dương”, “Ruộng Bình Dương”, và “Xuân Bình Dương”.
Để kết thúc bài viết này, chúng tôi xin giới thiệu lại mấy bài thơ của nhà thơ Bùi Giáng cảm nhận về đất và người Bình Dương từ hơn nửa thế kỷ trước, những bài thơ trong tập thơ chúng tôi được tác giả trao tặng, gìn giữ cho đến tận bây giờ, đã góp phần tạo nên những cơ duyên để cho người viết bài này được cảm nhận về mình với câu thơ hình như là một điều tiên cảm của nhà thơ Bùi Giáng: “Xin lời mở rộng con đường. Xin chiều bến đỗ Bình Dương bây giờ”.






