1-NSND – Tiến Sĩ Bạch Tuyết với Soạn giả Viễn Châu:

Soạn giả – NSND Viễn Châu là “người thầy tuồng” có một không hai của nghệ thuật cải lương Việt Nam. Dường như mỗi ngôi sao danh tiếng của cải lương đều có diễm phúc hơn một lần được ông “đo ni đóng giày” khi trình diễn. Tùy nét riêng của từng giọng ca mà ông đặt để bài bản, sắp xếp câu chữ. Có lần ông viết riêng cho tôi bài vọng cổ Tuyết trắng khi tôi vừa tròn 20 tuổi, qua đó nói lên tâm sự cô đào hát không may mồ côi mẹ khi 8 tuổi. Sau đó ông viết Dương Quý Phi khi tôi 25 tuổi và mãi đến giờ, lúc đã ngoài 70 tuổi, bất cứ đi đâu, chỗ nào, tôi cũng hay được khán giả yêu cầu hát: “…Tay nào chàng ấp ủ dung nhan? Tay nào chàng sẽ lau lệ anh hùng nghẹn chảy…”. Xem ra cứ mỗi bài ca ông viết là một câu chuyện cảm động, tha thiết chân thành, có mở đầu, có kết thúc và luôn là một kết thúc có hậu.
Tôi nghe ông từng nói, sở dĩ viết được nhiều là vì ông “đi nhiều, học nhiều, quan sát nhiều, thấy nhiều”. Tôi rất yêu quý, trân trọng hầu hết những sáng tác vọng cổ – những vở tuồng ông viết cũng như mê mẩn những giọng ca tài hoa của cải lương đã từ lâu đi vào lòng khán giả. Là học trò của ông, chúng tôi học được ở ông tính cách sống thật với chính mình, biết nhận ra điều tốt cũng như những gì chưa hoàn thiện, tự nhận trách nhiệm, tự rèn giũa, đồng thời nhờ nghệ thuật gột rữa để trong mắt công chúng, mình thể hiện nhân vật của mình một cách thanh thản, trung thực nhất. Nghệ sĩ Viễn Châu đã qua đời nhưng tôi cho rằng ông mãi ở lại với chúng ta, với các thế hệ sau này chính là những tác phẩm toát lên, khẳng định tài hoa, trí tuệ, tâm hồn của một con người, đến – như mọi người bình thường khác; đi – tên tuổi ông được viết hoa trong cuộc đời, trong nghệ thuật cải lương, một loại hình ca kịch dân tộc góp phần khẳng định bản sắc Việt Nam.
2-Ca nương Phạm Thị Huệ với GSTS Trần Văn Khê:

Bản thân tôi chỉ là cô học trò vinh hạnh gặp thầy sau các anh chị Bùi Trọng Hiền, Nguyễn Thị Hải Phượng… Nhưng tôi cho rằng mình hết sức may mắn khi có cùng mối quan tâm với thầy Trần Văn Khê bộ môn ca trù.
Nói về tình yêu âm nhạc dân tộc, khi còn sống,thầy vẫn luôn căn dặn tôi là ngày hôm nay phải tiến bộ hơn ngày hôm qua. Và những gì mà mình học được thì cần phải truyền đạt lại cho thế hệ sau. Có như vậy, âm nhạc truyền thống của chúng ta mới được lưu truyền mãi mãi. Nhớ khi tôi làm luận văn thạc sĩ về đàn Tỳ bà, có khá nhiều vấn đề khó khăn khiến đôi khi tôi muốn từ bỏ nhưng thầy đã động viên tôi rất nhiều. Thầy cũng gửi cho tôi nhiều tư liệu và những chính kiến để tôi có thêm động lực. Bất cứ chỗ nào khúc mắc tôi hỏi, thầy đều giải đáp một cách vô cùng thuyết phục.
Với tôi, còn có một kỷ niệm đặc biệt nữa là vào khoảng năm 2010, khi ấy thầy rất bận, sức khỏe cũng yếu nhưng thầy vẫn cố gắng thu xếp để đến dự lễ ra mắt Giáo phường Ca trù Thăng Long của chúng tôi ở Hà Nội. Giáo phường này ra đời đánh dấu ca trù được khôi phục sau 60 năm chìm vào quên lãng. Vẫn chưa hết, với tôi, thầy vừa là một người thầy kiêm người cha và ở một góc độ khác, thầy lại giống như một ông tiên ấm áp và luôn luôn lạc quan. Ở cạnh thầy, chúng tôi có thể quên hết mọi lo toan, bộn bề của cuộc sống. Chúng tôi có thể đàn hát, trò chuyện cùng ông những câu chuyện bất tận về âm nhạc, về tình người, lẽ sống. Cảm giác này rất bình yên và quý giá. Tôi nghĩ rằng sự ra đi của thầy là điều vô cùng mất mát, khó kể xiết. Bởi không biết bao giờ chúng ta mới có một thầy Trần Văn Khê như thế. Mặc dù sự sống – cái chết là quy luật, ai rồi cũng phải ra đi nhưng tôi vẫn muốn thầy mãi ở đây với chúng ta…
3- Ca sĩ Đông Đào với nhạc sĩ Thanh Sơn:

Trong giai đoạn đầu của cuộc đời sáng tác của mình, thầy Thanh Sơn luôn dành nhiều thời gian viết về tình yêu tuổi học trò. Nỗi buồn hoa phượng ra đời năm 1963, là một ca khúc nổi tiếng nói về thời học sinh và đến tận bây giờ, có thể là ca khúc bất hủ theo thời gian mỗi khi nói về mùa hè, về tuổi học trò. Cố nhạc sĩ Thanh Sơn cũng là người viết rất nhiều ca khúc cho tuổi học sinh và ông cũng là nhạc sĩ có nhiều sáng tác gắn liền với hình ảnh hoa phượng nhất. Hoa phượng được ông dùng cho tên gọi của một loạt những ca khúc như Nỗi buồn hoa phượng, Ve sầu mùa phượng, Phượng buồn, Buồn như phượng…
Bản thân tôi thường gọi thầy Thanh Sơn bằng chú và đã hát nhiều ca khúc của ông. Tôi vẫn nhớ mãi kỷ niệm một lần tôi cùng vợ chồng chú ra Đà Lạt để quay MV “Hoa tím người xưa”. Hôm ấy ông nói: “Ai cũng nhầm Hoa tím người xưa với bài Hoa tím ngày xưa của Hữu Xuân, nhưng thật ra “người xưa” là một kỷ niệm của chú với người yêu tại Thung lũng tình yêu. Người ấy đã bỏ chú ra đi, chú viết bài hát này trong sự nhớ nhung, tha thiết”. Và sau chuyến đi này quay về Sài Gòn, ông gọi tôi ra quán cà phê và đưa cho bài nhạc Mùa đông hoa đào và ông cho biết đây là ca khúc ông viết dành tặng riêng tôi…
Tôi rất ấn tượng với nội dung, ca từ trong mỗi ca khúc của thầy Thanh Sơn. Chú đã vẽ nên một bức tranh quê hương thật gần gũi dành cho người nghe, trong khi một số nhạc sĩ khác dù sử dụng nhiều ca từ sang trọng nhưng vẫn ít đọng lại được trong lòng người hâm mộ. Điều này được minh chứng cụ thể ở những ca khúc như: Nỗi buồn hoa phượng, Lưu bút ngày nay, Hoa tím người xưa… Đó là những bài hát được rất nhiều ca sĩ và khán giả yêu thích. Chúng gắn bó với tuổi thơ, ký ức đẹp đẽ và khiến cho mỗi người chúng ta rất khó lòng để quên ông!
Tác giả: Nguyễn Sinh






